Một câu hỏi đặt ra là làm thế nào để người khuyết tật có ít nguy cơ bị bệnh tật hơn kể cả khi có liên quan hay không liên quan đến tình trạng khiếm khuyết của họ.
Ở đâu thì con người cũng đều phơi nhiễm với nhiều yếu tố nguy cơ sức khỏe trong cuộc sống, ví dụ như gầy, thiếu cân, sử dụng thuốc lá, sử dụng rượu, nước không sạch, vệ sinh và chất thải, tình dục không an toàn, nguy cơ do tiền sử gia đình, sự kiểm soát của mỗi người, do phong cách sống, môi trường xã hội…Các hoạt động dự phòng sẽ làm giảm các nguy cơ này.
Phòng bệnh hơn chữa bệnh là cụm từ được nhiều người quen dùng, đó là dự phòng cấp 1. Cấp độ phòng ngừa này là những can thiệp như thay đổi hành vi, tiêm chủng, dinh dưỡng, vệ sinh chất thải, điều kiện sống và làm việc…Người khuyết tật thường dễ bị tổn thương hơn trước các nguy cơ sức khỏe tồn tại trong cộng đồng. Người khuyết tật cũng đối mặt với những nguy cơ như loét do đè ép, co rút cơ, đau, viêm xương, trầm cảm.
Dự phòng có vai trò quan trọng cho người khuyết tật và gia đình, nhân viên y tế cũng cần nhận thức được nhu cầu của người khuyết tật, làm sao để người khuyết tật dễ tiếp cận với các hoạt động dự phòng, dịch vụ tư vấn; cần đảm bảo trẻ em khuyết tật được tiêm chủng đầy đủ, chăm sóc phát hiện những dấu hiệu suy dinh dưỡng ở trẻ khuyết tật, đảm bảo giúp trẻ có đủ thức ăn phù hợp, đặc biệt các trẻ có vấn đề về tiêu hóa (ví dụ trẻ bại não có vấn đề về nhai và nuốt), có thể tăng cường giám sát sự tăng trưởng và cung cấp các vi chất dinh dưỡng và thực phẩm bổ sung cho trẻ khuyết tật. Đối với tất cả các bà mẹ cần được chăm sóc tiền sản như được tiêm chủng Rubella trước 3 tháng khi có thai, uống viên sắt – axit folic đầy đủ, đi khám thai đầy đủ, nuôi con hoàn toàn bằng sữa mẹ,…đều là những biện pháp quan trọng giúp phòng các khuyết tật cho trẻ. Trường hợp cần thiết phải được tư vấn về di truyền, ví dụ một cặp vợ chồng đã có một đứa con khuyết tật.
Tại bệnh viện Đa khoa tỉnh Khánh Hòa, trung bình mỗi năm có 400-500 trẻ sinh non, tỷ lệ trẻ sinh non < 32 tuần khoảng 100-150 trường hợp/năm. Từ năm 2012, bệnh viện đã triển khai thực hiện việc khám sàng lọc bệnh lý bong võng mạc ở trẻ sinh non (ROP). Theo báo cáo của bệnh viện, tỷ lệ ROP gần 15% (tập trung ở thành phố Nha Trang và một số tỉnh lân cận), tỷ lệ trẻ có bệnh cần điều trị gần 36%. Hầu hết trẻ bị ROP có cân nặng và tuổi thai thấp.
Chúng ta biết ROP là tình trạng bệnh lý của mắt thường gặp ở những trẻ đẻ non, nhẹ cân (< 1,6 kg). Mạch máu võng mạc ở mắt là phần cuối cùng phát triển hoàn thiện cho đến khi thai nhi đủ tháng, nhưng ở nhiều đứa trẻ đẻ non những mạch máu này không được phát triển hoàn thiện, sự phát triển bất thường này có thể dẫn đến những tổn hại của võng mạc và ảnh hưởng đến thị giác của trẻ. Nếu bệnh không được phát hiện và điều trị kịp thời sẽ có nguy cơ mù vĩnh viễn cả 2 mắt. Không phải tất cả trẻ đẻ non đều mắc bệnh, nhưng những trẻ sinh càng non, càng nhẹ cân (< 1,6 kg), thể trạng ốm yếu sẽ có nguy cơ mắc bệnh càng cao. Trẻ cần được khám lần đầu tiên 4 tuần sau đẻ, sau đó được khám lại sau 2 tuần cho tới khi được 40-42 tuần tuổi (kể từ ngày thụ thai) hoặc tới khi mạch máu ở võng mạc phát triển một cách đầy đủ. Nếu trường hợp ở giai đoạn nặng bé sẽ được khám lại trong vòng 1 tuần để khi có chỉ định sẽ được điều trị ngay.
Hiệu quả điều trị sẽ tốt nếu bệnh được phát hiện sớm và trẻ bị ở mức độ nhẹ hoặc trung bình. Những trẻ bị ROP sau điều trị cần được tiếp tục theo dõi thường xuyên để phát hiện sớm những di chứng như tật khúc xạ, lác…
Một vấn đề cũng cần chú ý đối với trẻ khuyết tật là các chấn thương ở nhà và trong cộng đồng, ví dụ cần trông trẻ khi chúng đến gần nước hay lửa, giữ các chất độc hại được khóa cẩn thận, xa tầm với của trẻ, giữ trẻ không lại gần ban công, mái nhà và cầu thang, không chơi những vật sắc nhọn, đội mũ bảo hiểm khi đi xe đạp, xe máy,…
Ngoài ra cũng nên giúp đỡ người khuyết tật và gia đình tự tin trong việc bày tỏ nhu cầu của mình với các nơi cung cấp dịch vụ chăm sóc sức khỏe, giúp người khuyết tật có thể đặt các câu hỏi cũng như đưa ra các quyết định về sức khỏe của mình.
Ở đâu thì con người cũng đều phơi nhiễm với nhiều yếu tố nguy cơ sức khỏe trong cuộc sống, ví dụ như gầy, thiếu cân, sử dụng thuốc lá, sử dụng rượu, nước không sạch, vệ sinh và chất thải, tình dục không an toàn, nguy cơ do tiền sử gia đình, sự kiểm soát của mỗi người, do phong cách sống, môi trường xã hội…Các hoạt động dự phòng sẽ làm giảm các nguy cơ này.
Phòng bệnh hơn chữa bệnh là cụm từ được nhiều người quen dùng, đó là dự phòng cấp 1. Cấp độ phòng ngừa này là những can thiệp như thay đổi hành vi, tiêm chủng, dinh dưỡng, vệ sinh chất thải, điều kiện sống và làm việc…Người khuyết tật thường dễ bị tổn thương hơn trước các nguy cơ sức khỏe tồn tại trong cộng đồng. Người khuyết tật cũng đối mặt với những nguy cơ như loét do đè ép, co rút cơ, đau, viêm xương, trầm cảm.
Dự phòng có vai trò quan trọng cho người khuyết tật và gia đình, nhân viên y tế cũng cần nhận thức được nhu cầu của người khuyết tật, làm sao để người khuyết tật dễ tiếp cận với các hoạt động dự phòng, dịch vụ tư vấn; cần đảm bảo trẻ em khuyết tật được tiêm chủng đầy đủ, chăm sóc phát hiện những dấu hiệu suy dinh dưỡng ở trẻ khuyết tật, đảm bảo giúp trẻ có đủ thức ăn phù hợp, đặc biệt các trẻ có vấn đề về tiêu hóa (ví dụ trẻ bại não có vấn đề về nhai và nuốt), có thể tăng cường giám sát sự tăng trưởng và cung cấp các vi chất dinh dưỡng và thực phẩm bổ sung cho trẻ khuyết tật. Đối với tất cả các bà mẹ cần được chăm sóc tiền sản như được tiêm chủng Rubella trước 3 tháng khi có thai, uống viên sắt – axit folic đầy đủ, đi khám thai đầy đủ, nuôi con hoàn toàn bằng sữa mẹ,…đều là những biện pháp quan trọng giúp phòng các khuyết tật cho trẻ. Trường hợp cần thiết phải được tư vấn về di truyền, ví dụ một cặp vợ chồng đã có một đứa con khuyết tật.
Tại bệnh viện Đa khoa tỉnh Khánh Hòa, trung bình mỗi năm có 400-500 trẻ sinh non, tỷ lệ trẻ sinh non < 32 tuần khoảng 100-150 trường hợp/năm. Từ năm 2012, bệnh viện đã triển khai thực hiện việc khám sàng lọc bệnh lý bong võng mạc ở trẻ sinh non (ROP). Theo báo cáo của bệnh viện, tỷ lệ ROP gần 15% (tập trung ở thành phố Nha Trang và một số tỉnh lân cận), tỷ lệ trẻ có bệnh cần điều trị gần 36%. Hầu hết trẻ bị ROP có cân nặng và tuổi thai thấp.
Chúng ta biết ROP là tình trạng bệnh lý của mắt thường gặp ở những trẻ đẻ non, nhẹ cân (< 1,6 kg). Mạch máu võng mạc ở mắt là phần cuối cùng phát triển hoàn thiện cho đến khi thai nhi đủ tháng, nhưng ở nhiều đứa trẻ đẻ non những mạch máu này không được phát triển hoàn thiện, sự phát triển bất thường này có thể dẫn đến những tổn hại của võng mạc và ảnh hưởng đến thị giác của trẻ. Nếu bệnh không được phát hiện và điều trị kịp thời sẽ có nguy cơ mù vĩnh viễn cả 2 mắt. Không phải tất cả trẻ đẻ non đều mắc bệnh, nhưng những trẻ sinh càng non, càng nhẹ cân (< 1,6 kg), thể trạng ốm yếu sẽ có nguy cơ mắc bệnh càng cao. Trẻ cần được khám lần đầu tiên 4 tuần sau đẻ, sau đó được khám lại sau 2 tuần cho tới khi được 40-42 tuần tuổi (kể từ ngày thụ thai) hoặc tới khi mạch máu ở võng mạc phát triển một cách đầy đủ. Nếu trường hợp ở giai đoạn nặng bé sẽ được khám lại trong vòng 1 tuần để khi có chỉ định sẽ được điều trị ngay.
Hiệu quả điều trị sẽ tốt nếu bệnh được phát hiện sớm và trẻ bị ở mức độ nhẹ hoặc trung bình. Những trẻ bị ROP sau điều trị cần được tiếp tục theo dõi thường xuyên để phát hiện sớm những di chứng như tật khúc xạ, lác…
Một vấn đề cũng cần chú ý đối với trẻ khuyết tật là các chấn thương ở nhà và trong cộng đồng, ví dụ cần trông trẻ khi chúng đến gần nước hay lửa, giữ các chất độc hại được khóa cẩn thận, xa tầm với của trẻ, giữ trẻ không lại gần ban công, mái nhà và cầu thang, không chơi những vật sắc nhọn, đội mũ bảo hiểm khi đi xe đạp, xe máy,…
Ngoài ra cũng nên giúp đỡ người khuyết tật và gia đình tự tin trong việc bày tỏ nhu cầu của mình với các nơi cung cấp dịch vụ chăm sóc sức khỏe, giúp người khuyết tật có thể đặt các câu hỏi cũng như đưa ra các quyết định về sức khỏe của mình.
Theo: Y Tế Khánh Hòa

Đăng nhận xét